ĐẤT NỀN SIÊU HẤP DẪN TẠI ĐÀ NẴNG – CHỈ 2,9 TRIỆU/M2


– GIÁ CỰC HẤP DẪN ĐẦU TƯ & MUA Ở: 2,9 TRIỆU/M2

– SỔ ĐỔ TRAO NGAY (HOẶC THANH TOÁN LINH HOẠT ĐẾN 6 THÁNG)

– HẠ TẦNG HOÀN THIỆN – QUY HOẠCH ĐỒNG BỘ VỚI CÁC KHU ĐÔ THỊ XUNG QUANH

VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC:

Cách trung tâm Đà Nẵng 8km – Cách phố cổ du lịch Hội An 7Km

Nằm cạnh danh thắng Non Nước Ngũ Hành Sơn

Cạnh tuyến đường TRIỆU ĐÔ & các siêu dự án đồ sộ: Sân golf VinaCapital, Mongomeri – The Empire – FPT city – Làng đại học … chỉ 1->2km.

Cách tuyến Sông Cổ cò (Nối sông Hàn Đà Nẵng với Đô thị cổ du lịch Hội An – dài 29km, rộng từ 90 – 120m. Đây là tuyến phục vụ du lịch độc đáo của Đà Nẵng & Quảng Nam – Hoàn thành năm 2013.  Vui lòng xem thêm thông tin tại: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120530/khoi-thong-song-co-co-30-5-2012.aspx)

Nằm cách chợ Điện Ngọc chừng 100m

Nằm cách trung tâm hành chính mới của Thị Xã Điện Bàn hình thành trong tương lai gần – chỉ 50m.

ĐÔ THỊ TRONG CHUỖI ĐÔ THỊ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CỦA CẢ MIỀN TRUNG

– Hạ tầng đồng bộ – rộng – thoáng và kết nối thông suốt từ Đà Nẵng- Hội An, Quảng Nam.

– Khu đô thị số 3 Điện Nam, Điện Ngọc gần như là trung tâm của hướng phát triển đô thị chiến lược về Đông Nam của Thành phố Đà Nẵng & hướng phát triển chuỗi đô thị mới về hướng Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam

– Cộng hưởng tốt sự phát triển + quy hoạch cực tốt của Đà Nẵng

– Cộng hưởng được nhiều tiện ích từ các Siêu dự án lớn của cả Đà Nẵng & Quảng Nam (Sân golf VinaCapital, Mongomeri – The Empire – FPT city – Làng đại học … KCN điện Nam, Điện Ngọc – 1 trong những KCN phát triển mạnh mẽ nhất trong mấy năm qua, Resort The Nam Hai, Dragon City, KDL Biển Cửa Đại, …

NHIỀU TIỆN ÍCH – Sẵn sàng chào đón chủ nhân mới

Với quy hoạch theo chuẩn mực cuộc sống

– Mật độ xây dựng thấp: khoảng 55% (diện tích đất ở chưa đến 20ha, còn lại là đất dành cho các dịch vụ thương mại, trường học, đường giao thông và công viên cây xanh).

– Hạ tầng giao thông đang quá trình hoàn thiện phần trải thảm nhựa và trồng cây xanh, các vị trí mở bán đều đã có sổ đỏ và có thể xây nhà ở. Trong thời gian tới chủ đầu tư tiếp tục đầu tư cảnh quan của dự án.

– Điểm nhấn bên trong dự án chính là khu vực quảng trường hồ sinh thái- công viên trung tâm gần 3,7ha, sẽ là nơi sinh hoạt cộng đồng của cư dân khu đô thị, nơi môi trường sống bên thiên nhiên.

– Ngay trung tâm của dự án là trường Đại học Đông Á (9,1 ha), một hạng mục quan trọng trong việc phát triển giáo dục & Khu vui chơi công cộng lớn ở trung tâm dự án …

Liên hệ sớm để chọn vị trí đẹp:

HOTLINE: 0905 93 1998

EMAIL: LONGNGUYENMAR@GMAIL.COM

Xem thêm thông tin về viễn cảnh tươi đẹp của dự án:

This slideshow requires JavaScript.

Categories: DỰ ÁN BÁT ĐỘNG SẢN TẠI ĐÀ NẴNG | Để lại bình luận

Việt Nam sắp có thêm 2 chiến hạm Gepard 3.9


Cập nhật lúc :3:40 PM, 07/12/2011
Tờ Interfax dẫn lời ông Sergei Rudenko, Phó Giám đốc Nhà máy đóng tàu Zelenodolsk Gorky cho biết, Việt Nam sắp có thêm 2 chiến hạm Gepard 3.9.

(ĐVO) Theo ông Rudenko, Tập đoàn xuất khẩu vũ khí Nga Rosoboronexport và nhà máy đóng tàu Zelenodolsk Gorky đã hoàn thành hợp đồng cung cấp cho Việt Nam 2 chiến hạm Gepard 3.9 trong năm 2011.

“Hợp đồng cung cấp 2 tàu Gepard 3.9 cho Hải quân Việt Nam được chúng tôi hoàn thành hồi giữa tháng 7/2011 vừa qua. Chúng tôi sẽ cung cấp thêm 2 chiến hạm Gepard 3.9 nữa cho Việt Nam”, ông Rudenko nói với Interfax hôm 7/12.

Ông Rudenko cũng lưu ý, vũ khí ở hai chiếc Gepard 3.9 mới sẽ lắp đặt theo yêu cầu của phía Việt Nam.

Ông Rudenko đang có mặt ở triển lãm Không gian và Hàng hải quốc tế Lima 2011 tại Malaysia để có thể xúc tiến việc ký kết thêm các hợp đồng cung cấp tàu chiến cho các đối tác.

Phạm Thái (theo Interfax)
Categories: TIN QUỐC PHÒNG | Tags: , , | Để lại bình luận

Su-22 vũ khí chủ lực đối hải của Không quân Việt Nam


Tuy đã mua sắm khá nhiều các loại máy bay mới trong 1 thập kỉ gần đây nhưng Su-22 vẫn là vũ khí chủ lực đối hải của Không quân Việt Nam.

Mô tả ảnh.
Máy bay chiến đấu ném bom Su-22M4 của Không quân Việt Nam

Theo đó tờ Hoàn Cầu cho biết: “Việt Nam trong gần 1 thập kỉ  qua đã kí kết nhiều hợp đồng mua sắm vũ khí với Nga, nhưng số máy bay mới như Su-30/27 trong biên chế không quân còn quá ít ỏi trong khi vùng biển cần tuần tra kiểm soát lại quá rộng lớn. Mặc dù đã hiện hữu khá lâu trong biên chế không quân Việt Nam, Su-22 vẫn phải đảm nhiệm vai trò chủ lực trong nhiệm vụ tuần tra kiểm soát biển của mình”.

“Bằng những hợp đồng nâng cấp được kí với các công ty sản xuất vũ khí của Nga từ năm 1996 đến nay Việt Nam đã tiến hành nâng cấp khoảng 40 chiếc Su-22M4 một chỗ ngồi và Su-22UM3 hai chỗ ngồi. Bên cạnh việc nâng cấp động cơ, máy móc, trang thiết bị thì Su-22 mới này của Việt Nam còn được các công ty của Nga trang bị và nâng cấp thêm nhiều vũ khí mới bên cạnh các loại vũ khí cơ bản như: Tên lửa AA-12(R-77), tên lửa không đối đất AS-14, tên lửa chống hạm AS-17 và tên lửa không đối đất AS-18”, tờ báo này cho biết thêm.

Mô tả ảnh.
 Tên lửa chống hạm của Su-22M4 của Việt Nam

Giai đoạn hiện tại có thể Su-22 vẫn là vũ khí đối hải chủ lực của Không quân Việt Nam, nhưng bằng các hợp đồng mua sắm máy bay chiến đấu mới như Su-27SK/UBK hay Su-30 MK2 thì theo dự đoán cho đến năm 2015 Su-22 sẽ không giữ được vị trí độc tôn của mình trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam nữa, tờ báo này kết luận.

Dưới đây là hình ảnh về vũ khí chủ lực đối hải Su-22 của Không quân Việt Nam:

Mô tả ảnh.
Phi công Việt Nam trên những chiếc Su-22UM3
Mô tả ảnh.
Các loại tên lửa trang bị cho Su-22 của Việt Nam
Mô tả ảnh.
Việt Nam trong gần 1 thập kỉ  qua đã kí kết nhiều hợp đồng mua sắm vũ khí với Nga, nhưng số máy bay mới như Su-30/27 trong biên chế không quân còn quá ít ỏi trong khi vùng biển cần tuần tra kiểm soát lại quá rộng lớn. Mặc dù đã hiện hữu khá lâu trong biên chế không quân Việt Nam, Su-22 vẫn phải đảm nhiệm vai trò chủ lực trong nhiệm vụ tuần tra kiểm soát biển của mình
Mô tả ảnh.
Buồng lái của Su-22M4 của Không quân Việt Nam
Mô tả ảnh.
Tên lửa không đối đất của Su-22 AS-14(Kh29  )
Mô tả ảnh.
Tên lửa không đối đất AS-18(Kh-59) và tên lửa không đối không R-27
Mô tả ảnh.
Tên lửa không đối đất Kh-23 và Kh-23M
Mô tả ảnh.
Tên lửa Kh-25ML, Kh-25MR và Kh-25MP
Mô tả ảnh.
Tên lửa Kh-29L
Mô tả ảnh.
Tên lửa Kh-29T
  • Phú nguyễn (theo Hoàn Cầu)
Categories: TIN QUỐC PHÒNG | Để lại bình luận

Hệ thống tên lửa hành trình Club-S cho các tàu ngầm Việt Nam


VietnamDefence – Hệ thống tên lửa hành trình Club-S sẽ được trang bị cho 6 tàu ngầm điện-diessel Projekt 636 Varshavyanka (NATO gọi là lớp Kilo) mà Việt Nam đặt mua của Nga, hãng tin ITAR-TASS dẫn lời phát biểu của Giám đốc về kinh tế đối ngoại Tập đoàn Morinformsystema-AGAT Rotislav Atkov phát biểu tại Triển lãm hải quân quốc tế DIMDEX-2010.

Tên lửa hành trình chống hạm 3M-54E/3M54E1 ClubS trang bị cho tàu ngầm Projekt 636M Kilo

Theo ông Atkov, các hệ thống tên lửa họ Club đã được lắp hoặc dự định xuất khẩu cho Ấn Độ, Trung Quốc, Algeria và Việt Nam để trang bị cho các tàu nổi và tàu ngầm. “Trong đó, 2 tàu ngầm Projekt 636 của Hải quân Algeria đã được trang bị hệ thống Club-S, 6 tàu ngầm cùng lớp mà Việt Nam đặt mua cũng được trang bị hệ thống này”, – ông Atkov nói.

Danh mục ban đầu các hệ thống tên lửa họ Club gồm có các biến thể Club-N và Club-S dùng để trang bị tương ứng cho tàu nổi và tàu ngầm. “Hồi đó, Viện OKB Novator là nhà thầu chính, chúng tôi thì làm hệ thống điều khiển”, – ông Atkov lưu ý. Sau đó, kể từ hệ thống tên lửa bờ biển cơ động Club-M, “chúng tôi đã trở thành hãng thầu chính”. “Bước phát triển tiếp theo của hệ thống này là hệ thống Club-K lắp trong contenơ mà chúng tôi lần đầu tiên trưng bày tại triển lãm ở khu vực này”, – ông Atkov cho hay.

“Liên quan đến hệ thống Club-U thì đây thuần túy là hệ thống dành cho hải quân với 3 loại bệ phóng – nghiêng, nghiêng có cơ cấu nâng, và thẳng đứng”, – Atkov nói. Đặc điểm này của hệ thống cho phép hạn chế tối đa những thay đổi về kết cấu các con tàu khi hiện đại hóa để trang bị Club. Biến thể UKSK của nó “chỉ dành riêng cho thị trường Ấn Độ, bởi vì biến thể này dự định sử dụng được cả tên lửa siêu âm BrahMos do Nga và Ấn Độ liên doanh chế tạo.

Tàu ngầm Projekt 636 lớp Kilo (admship.ru)

Ông Atkov cho rằng, “thị trường các quốc gia vùng vịnh Persique là rất triển vọng đối với các hệ thống Club. Theo đánh giá của ông, “quân đội các nước này sẽ quan tâm nhất đến các hệ thống Club-M và Club-K.

Club-M – là hệ thống tên lửa bờ biển cơ động đa năng, dùng để tiêu diệt mục tiêu mặt nước và mặt đất. Một bệ phòng được lắp 6 tên lửa để trong contenơ chuyên chở kiêm ống phòng. Tầm bắn tùy theo loại tên lửa lửa là từ 15-275 km, trọng lượng phần chiến đấu từ 200-450 kg, độ cao bay tiếp cận mục tiêu 5-10 m.

  • Nguồn: arms-expo, 30.3.2010
Categories: TIN QUỐC PHÒNG | Để lại bình luận

Nếu khai chiến trên biển Đông, Hoa lục có thể sẽ thua Việt Nam


Từ Viet-Studies

Một số tờ báo của Hồng Công gần đây như “Đại công báo”, “Văn Hối”, “Đông phương” và nguyệt san “Phòng vệ Hán Hoà” dẫn lời các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh cho rằng tuy từ đầu năm 2009 đến nay, các bước chuẩn bị đấu tranh quân sự của Hoa Lục trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông (Hoa Lục gọi là biển Hoa Nam) vô cùng rầm rộ. Thế nhưng trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Hoa Lục chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Hoa Lục cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Hoa Lục còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan. Dưới đây là tổng hợp nội dung cơ bản của các bài viết này.

1- Rào cản chính trị: Tại khu vực Biển Đông, hiện nay có ba nước tồn tại bất đồng lớn nhất với Hoa Lục về lãnh hải và hải đảo là Việt Nam, Philippin và Malaixia, trong đó Việt Nam là hàng đầu. Vì thế, khả năng bùng nổ xung đột quân sự tại khu vực biển Đông chỉ có thể là Hoa Lục tấn công quân sự chiếm các đảo, bãi mà Việt Nam đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa (Hoa Lục gọil à Nam Sa). Còn khả năng Hoa Lục và Malaixia nổ ra xung đột quân sự do tranh chấp đảo Layan Layan (đá Hoa Lau) trong tương lai gần, cơ bản bằng không. Thế nhưng, vấn đề quan trọng là Hoa Lục áp dụng hành động quân sự quy mô lớn với Việt Nam, thế tất sẽ thiêu huỷ hoàn toàn hình tượng quốc tế “hoà bình phát triển” mà Hoa Lục tạo dựng trong gần 20 năm qua. Hệ quả là sự cảnh giác của Ôxtrâylia, Mỹ, Nhật Bản và cả Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) đối với Hoa Lục sẽ tăng cao. – Gần đây, hợp tác và trao đổi quân sự giữa Mỹ với ASEAN và Việt Nam đã có những bước tiến lớn, một khi Hoa Lục áp dụng hành động quân sự, dư luận và báo chí chính thức của Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác sẽ đứng về phía Việt Nam. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản thậm chí còn cung cấp cho Việt Nam chi viện về tình báo và hậu cần quân sự cho Việt Nam . Bên cạnh đó, “Học thuyết quân sự mới” của Ôxtrâylia cho rằng biển Đông chính là “biên cương lợi ích” của Ôxtrâylia sẽ có cớ phát triển. – Một khi chiến tranh bùng nổ, sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự thành lập chính thức của tập đoàn “NATO biển Đông”, bước đi Nam tiến của Lực lượng Tự vệ trên biển của Nhật Bản cũng sẽ trở thành hiện thực và tạo ra căn cứ hợp pháp để Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp. Hơn thế, tại khu vực này, tồn tại “Hiệp ước đồng minh Mỹ – Xinhgapo – Ôxtrâylia” và từ sau năm 1995, Mỹ cùng với 6 nước ASEAN là Philippin, Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia và Bruney tổ chức cuộc diễn tập quân sự hàng năm mang tên “Karat”, được mệnh danh là “Tập đoàn Karat” và trên thực tế đã trở thành quan hệ “chuẩn đồng minh”. – Quần đảo Trường Sa hiện nay, có một số đảo nằm sát bờ biển Malaixia, có một số đảo gần đường trung tuyến Việt Nam – Malaixia, cách Hoa Lục xa như vậy, nói là của Hoa Lục thật khó có sức thuyết phục. Do vậy, khi Hoa Lục áp dụng hành động quân sự, hình tượng quốc tế của các nước hữu quan, nhất là Việt Nam sẽ tốt hơn nhiều so với Hoa Lục, theo đó các nước lớn châu Âu, thậm chí cả Mỹ và Ấn Độ sẽ cùng đưa ra đề nghị cung cấp vũ khí cho Việt Nam, khiến cho nhân tố thiên thời và nhân hòa là bất lợi đối với Hoa Lục.

2- Rào cản về quân sự: Các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh nêu rõ nhìn bề ngoài, so sánh sức mạnh quân sự giữa Hoa Lục với Việt Nam, phía Hoa Lục có vũ khí hiện đại mang tính áp đảo, nhất là ưu thế về số lượng và chất lượng tàu mặt nước, tàu ngầm cỡ lớn. Thế nhưng, phân tích sâu về học thuyết địa – quân sự, thực sự bùng nổ chiến tranh trên không và trên biển với Việt Nam, ưu thế sức mạnh quân sự không hẳn nghiêng về Hoa Lục. Bởi vì đặc điểm mới của chiến tranh kỹ thuật công nghệ cao với vũ khí tên lửa là không có khái niệm so sánh sức mạnh của nước mạnh, nước yếu. Theo đó, nước yếu có một số ít tên lửa hiện đại, trong chiến tranh trên biển và trên không, vẫn có thể dựa vào ưu thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa v.v. – So sánh cụ thể hơn, về hải quân và không quân của Hoa Lục tham gia cuộc chiến tranh này thành phần chính sẽ là Hạm đội Nam Hải (Bộ Tư lệnh đặt tại Trạm Giang, Quảng Châu). Còn Việt Nam lực lượng không quân được trang bị máy bay chiến đấu “Su-30MKV” và “Su-27SK/UBK”. Hải quân Việt Nam được trang bị phi đạn tốc độ cao “Molniya-12418” và tới đây có cả tàu ngầm “KILO-636”. Như vậy, xu thế so sánh sức mạnh tại biển Đông đang phát triển theo hướng bất lợi cho Hoa Lục. Trong tương lai gần, khi Hải quân Việt Nam đưa tàu ngầm “KILO- 636” vào sử dụng, quyền kiểm soát cục bộ dưới nước có thể sẽ nghiêng về phía Hải quân Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Lục phải tính đến nhân tố máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của không quân Việt Nam có thể sẽ được trang bị hoả tiễn siêu âm không đối hạm “BRAHMOS” (của Ấn Độ) và “YAKHONT” (của Nga) với tầm bắn đạt 300km. Về năng lực phòng không, Hoa Lục và Việt Nam đều được trang bị tên hỏa tiễn đối không “S-300PMU1”. Lực lượng phòng không của Việt Nam có 2 tiểu đoàn, còn con số này của Hoa Lục là 20. Thế nhưng, lực lượng này (của Hoa Lục) có căn cứ trên đất liền, do vậy vai trò có thể phát huy trong chiến tranh trên biển và không phận trên biển khá hạn chế.

3- Rào cản về địa lý: Toàn bộ 29 đảo, bãi mà Việt Nam kiểm soát hiện nay tại Trường Sa, cách đất liền từ 400 – 600 km. Tại khu vực này, Việt Nam có các căn cứ không quân tại vịnh Cam Ranh (Nha Trang), Đà Lạt (Lâm Đồng) và ở Thành phố Hồ Chí Minh, đa số không phận tại khu vực tranh chấp này đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay tấn công “Su-22” của không quân Việt Nam, chưa kể đến máy bay chiến đấu “Su-30MKV” và “Su-27SK” với bán kính tác chiến lên đến 1.500 km. Từ đó cho thấy cả Hoa Lục và Việt Nam đều có đủ năng lực tấn công tầm xa đối với các căn cứ hải quân trung tâm của đối phương. Việt Nam đã xây dựng sân bay tại đảo Trường Sa. Nếu so sánh, không quân Hoa Lục kể cả cất cánh từ sân bay tại đảo Hải Nam, khoảng cách đường thẳng đối với 29 đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát đã lên đến từ 1.200 – 1.300 km, còn cất cánh từ khu vực quần đảo Hoàng Sa, khoảng cách đến Trường Sa cũng lên đến từ 900 – 1.000 km… Điều này buộc máy bay chiến đấu “J-10” và “J-8D” và cả “Su-30MKK” và “Su-27SK” của Không quân Hoa Lục đều cần được tiếp dầu trên không mới có thể tham chiến. Tuy vậy, thời gian tác chiến trên vùng trời biển Đông so với máy bay chiến đấu cùng loại của không quân Việt Nam cũng ngắn hơn khoảng 50%. Khi chiến tranh bùng nổ, sân bay trên đảo Vĩnh Hưng (Hoàng Sa) và thậm chí cả sân bay trên đảo Hải Nam của không quân Hoa Lục nhiều khả năng trước tiên sẽ bị máy bay chiến đấu “Su-22” của không quân Việt Nam thực hiện tấn công phủ đầu. Căn cứ Toại Khê, Căn cứ Quế Lâm (Quảng Tây) của Sư đoàn không quân số 2 cũng nằm trong phạm vi bán kính tác chiến tấn công của máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của Không quân Việt Nam. Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng khác là xung đột không chỉ hạn chế ở khu vực biển Đông, toàn bộ các mục tiêu chiến lược tại đảo Hải Nam, Hồng Kông, Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây) đều nằm trong phạm vi bán kính tác chiến của máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của Không quân Việt Nam. Địa hình lãnh thổ của Việt Nam dài hẹp, máy bay “Su-27SK” và “J-10A” của Hoa Lục, sau khi tham chiến, trên đường bay trở về căn cứ tại đảo Hải Nam hay căn cứ Toại Khê, Quế Lâm (Quảng Tây), đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay chiến đấu “MiG-21Bis” của Không quân Việt Nam cất cánh từ các căn cứ không quân miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Do vậy, MiG-21Bis của Việt Nam có thể cất cánh đánh chặn máy bay chiến đấu của Hoa Lục đã hết vũ khí và thiếu nhiên liệu vào bất cứ lúc nào.

4- Rào cản về chiến thuật: Máy bay chiến đấu “Su-22” của không quân Việt Nam có thể sẽ áp dụng chiến thuật không kích siêu thấp và có được sự yểm hộ hoả lực trong tấn công đảo, bãi. Vì thế, ngay cả khi Hoa Lục chiếm lĩnh được các đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát hiện nay, bảo vệ lâu dài là vấn đề cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, Không quân Việt Nam áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp, sẽ tránh được sự theo dõi của các loại radar trên tàu mặt nước của Hoa Lục và trực tiếp tấn công các tàu mặt nước cỡ lớn của hải quân Hoa Lục. Hải quân Việt Nam không có tàu mặt nước cỡ lớn, cho nên không ngại Hoa Lục áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp. Hơn thế, như vậy còn khiến cho tàu ngầm hiện đại của Hoa Lục không thể phát huy sức mạnh, chỉ có thể tấn công tàu vận tải của hải quân Việt Nam. Nhưng phán đoán từ loại tàu đổ bộ từ đất liền tiến ra đảo, bãi quần đảo Trường Sa của Việt Nam hiện nay, đa số là tàu vận tải cỡ nhỏ lớp từ 300 – 500 tấn trở xuống, hơn thế phần nhiều là được đóng bằng gỗ, cho nên điều động tàu ngầm hiện đại để tiêu diệt là không cần thiết.

Categories: TIN QUỐC PHÒNG | Để lại bình luận

Tạp chí Quân sự châu Á đánh giá hải quân khu vực (kỳ 2)


Cập nhật lúc :8:10 AM, 28/06/2011
Tạp chí Quân sự Châu Á (số ra tháng 5/2011) đã đưa ra con số thống kê lực lượng hải quân các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Australia

Hải quân Hoàng gia Australia có quân số thường trực 14.000 người trang bị 58 tàu các loại.

Khinh hạm chiến đấu chủ lực gồm: 8 tàu lớp Anzac và 4 tàu lớp Adelaide.

Đơn vị tàu ngầm gồm: 3 tàu ngầm điện – diesel lớp Collin. Đây được coi là loại tàu ngầm truyền thống lớn nhất thế giới và là thiết kế “đầu tay” của Australia.

Khinh hạm chiến đấu chủ lực lớp Anzac của Australia.

Tàu quét mìn gồm: 6 tàu lớp Huon, 2 tàu MSA và 2 tàu CDT.

Tàu chiến cỡ nhỏ gồm: 14 tàu tuần tra cỡ nhỏ lớp Armidale chuyên làm nhiệm vụ tuần tra ven biển, bảo vệ ngư trường.

Tàu đổ bộ gồm: 6 tàu lớp Balikpapan, 1 tàu lớp Tobruk, 2 tàu lớp Kanimbla (vận chuyển binh lính và trực thăng). Australia đang đóng 2 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Canberra (lượng giãn nước tới 27.800 tấn). Dự kiến chúng đi vào phục vụ năm 2014-2016.

Tàu hậu cần gồm hai tàu tiếp dầu thuộc lớp Durance và Sirius.

Theo sách trắng quốc phòng Australia công bố năm 2009 thì họ có kế hoạch thay thế tất cả tàu tuần tra, tàu quét mìn bằng 20 tàu đa năng với tổng giá trị chương trình khoảng 1,5 tỷ USD.

Bangladesh

Hải quân Bangladesh tổ chức với 19.000 quân thường trực (gồm 4.000 nhân viên dân sự), chủ yếu làm nhiệm vụ tuần tra ven biển.

Khinh hạm chủ lực có: 1 tàu BNS Bangabandhu, 1 tàu mang tên Khalid Bin Walid (thiết kế DW2000H của Hàn Quốc), 2 tàu lớp Jianghu (Trung Quốc đóng), 1 tàu lớp Salibury (mua lại từ Anh) và 2 tàu lớp Leopard (mua của Anh).

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 2 tàu tuần tra ven biển lớp Castle, 5 tàu lớp Island, 1 tàu tuần tra lớp Sea Dragon, 1 tàu lớp Hainan, 2 tàu lớp Haizhui, 2 tàu lớp Karnaphuli, 3 tàu cao tốc lớp Huangfen, 5 tàu cao tốc mang tên lửa lớp Hegu, 4 tàu tuần tiễu lớp Huchuan, 4 tàu cao tốc lớp Shanghai II và 4 tàu cao tốc lớp Sea Dolphin.

BNS Bangabandhu – chiến hạm chủ lực hiện đại nhất Hải quân Bangladesh.

Tàu quét mìn gồm: 4 tàu lớp Shapla và 1 chiếc lớp T43.

Tàu đổ bộ gồm: 2 tàu lớp Shah Poran, 3 tàu lớp Yuchin, 3 tàu LCVP.

Theo một số nguồn tin, Bangladesh bày tỏ mối quan tâm tới 3 tàu lớp Pohang (Hàn Quốc) và 2 tàu F-22P của Trung Quốc.

Ấn Độ

Hải quân Ấn Độ được xếp vào hàng lớn trên thế giới với 67.000 quân thường trực và 170 tàu các loại. (>> xem thêm)

Tàu sân bay có: 1 tàu sân bay hạng nhẹ Viraart (phục vụ tới năm 2018), 1 tàu Vikramaditya (đang được phía Nga nâng cấp hoàn thiện, dự kiến sẽ đi vào hoạt động năm 2013) và 1 tàu sân bay tự đóng (dự kiến hoàn thành năm 2015).

Khu trục hạm gồm: 3 tàu lớp Delhi (3 chiếc đang đặt hàng), 5 tàu lớp Rajput, 4 tàu lớp Kolkata đang đóng.

Khinh hạm gồm: 3 tàu lớp Talwar (3 chiếc đang đặt hàng), 3 tàu lớp Brahmaputra, 4 tàu lớp Godvari, 4 tàu lớp Nilgiri và 1 tàu lớp Shivalik (2 chiếc đang đặt hàng).

Hộ vệ hạm gồm: 6 tàu lớp Suyanka (trong đó có một tàu trang bị tên lửa đạn đạo tầm ngắn Dhanush), 4 tàu lớp Khukri, 4 tàu lớp Kora, 4 tàu lớp Durg (hay còn gọi là lớp Nanuchka của Nga), 12 tàu lớp Veer (Taratul I), 2 tàu lớp Prabal (Taratul IV), 4 tàu lớp Abhay (Pauk II) và 4 tàu săn ngầm tàng hình lớp Kamorta đang chế tạo.

Khinh hạm tàng hình Shivalik.

Hạm đội tàu ngầm gồm: 10 tàu ngầm lớp Sindhughosh (Kilo), 4 tàu lớp Shishumar, 1 tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Arihand (5 chiếc đang đặt hàng), 1 tàu Akula II (Ấn Độ thuê của Nga), 2 tàu DSRV và 6 tàu ngầm Scorpene đang đóng.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 5 tàu lớp Super Dvora II, 4 tàu lớp Trinkat, 4 tàu SD Mk2/3M và 4 tàu Sankalp.

Tàu quét mìn gồm: 12 tàu lớp Pondichery (đã được nâng cấp thiết bị của Thales), 6 tàu lớp Mahe và 2 tàu lớp Osprey (mua lại của Mỹ). Ngoài ra, Ấn Độ lên kế hoạch đóng 8 tàu quét mìn chị giá 1,4 tỷ USD.

Tàu đổ bộ gồm: 1 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Jalashwa, 5 tàu lớp Polnocny, 3 tàu đổ bộ tank lớp Shadul, 2 tàu đổ bộ tank lớp Magar và 6 ca nô đổ bộ.

Nhật Bản

Lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật Bản được đánh là một trong những lực lượng hải quân lớn nhất thế giới và lớn thứ hai ở châu Á. Quân số thường trực của quân phòng vệ khoảng 46.000 người với 110 tàu các loại.

Hải quân phòng vệ biên chế 2 tàu chở trực thăng loại 18.000 tấn lớp Hyuga. Nó có thể chở 11 trực thăng cùng đơn vị đổ bộ.

Khu trục hạm gồm: 2 tàu lớp Atago, 2 tàu lớp Kongo (chuẩn bị lắp hệ thống tên lửa đánh chặn SM-3), 2 tàu lớp Hatakaze, 1 tàu lớp Tachikaze, 2 tàu lớp Shirane (tương lai sẽ thay thế bởi loại 22DDH), 2 tàu lớp Haruna, 5 tàu lớp Takanami, 6 tàu lớp Murasame, 7 tàu lớp Asagiri, 9 tàu lớp Hatsuyuki.

Khinh hạm gồm: 2 tàu lớp Yubari và 6 tàu lớp Abukuma.

Tàu chở trực thăng lớp Hyuga.

Hạm đội tàu ngầm gồm: 3 tàu ngầm tấn công lớp Soryu (4 chiếc đang đóng), 11 tàu lớp Oyashio (sẽ được nâng cấp để kéo dài tuổi thọ) và 2 tàu lớp Harushio (dùng cho nhiệm vụ huấn luyện thủy thủ).

Tàu quét mìn gồm: 2 tàu lớp Uraga, 3 tàu lớp Yaeyama, 7 tàu lớp Uwajima, 3 tàu lớp Hirashima và 12 tàu lớp Sugashima.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ có 6 chiếc lớp Hayabuss.

Tàu đổ bộ gồm: 3 tàu đổ bộ tank lớp Osumi, 2 tàu đổ bộ phục vụ lớp I-Go, 2 tàu đổ bộ lớp Yura.

Chính phủ Nhật Bản có kế hoạch mở rộng hạm đội tàu ngầm từ 16 lên 20-22 chiếc và nâng số khu trục lên 47-48 chiếc.

Triều Tiên

Hải quân Triều Tiên được tổ chức quân số thường trực 46.000 người và trang bị 708 tàu các loại. Tuy nhiên, hầu hết chiến hạm đều nhỏ, cũ, thiết bị lạc hậu.

Khinh hạm lớn nhất của Triều Tiên gồm: 2 tàu lớp Najin và 1 tàu lớp Soho.

Hạm đội tàu ngầm gồm: 25 tàu lớp Romeo, 4 tàu lớp Whiskey, 20-25 tàu lớp Sang-O, 4-8 tàu lớp Sang-O II và 40-50 tàu lớp Yugo.

Khinh hạm lớp Najin trang bị hai tên lửa diệt hạm CSS-N-1.

Lực lượng tàu chiến đấu nhỏ của Triều Tiên là bộ phận lớn nhất gồm: 18 tàu cao tốc tên lửa lớp Soju, 12 tàu tên lửa lớp Osa, 10 tàu tên lửa lớp Komar, 9 tàu tên lửa lớp Sohung, 24 tàu phóng lôi P-6, 6 tàu tuần tra lớp Hainan, 18 tàu phóng lôi lớp Anju, 62 tàu lớp Chaho, 52 tàu lớp Chong Jin, 13 tàu lớp Shang hai II, 18 tàu lớp Sinpo/Sinnam, 12 tàu lớp Tae Chong, 12 tàu lớp Iwon, 37 tàu lớp Sin-Hung, 88 tàu lớp Ku Song, 4 tàu lớp Sariwan, 15 tàu lớp SO1.

Tàu đổ bộ gồm: 8 tàu đổ bộ phục vụ lớp Hantae, 16 tàu lớp Hungnam, 100 ca nô đổ quân lớp NamPo, 7 xà lan đổ bộ tự hành hạng trung lớp Hanchon và 70 tàu đổ bộ đệm khí lớp Songiong.

Hàn Quốc

Quân số thường trực của Hải quân Hàn Quốc khoảng 68.000 người, được trang bị 170 tàu các loại. Tuy ít hơn Triều Tiên về số lượng tàu nhưng đây đều là các chiến hạm hiện đại hơn rất nhiều.

Khu trục hạm gồm: 3 tàu lớp Sejong Daewang (1 chiếc đang hoàn thiện), 6 tàu lớp Chungmugong Yi Sun Shin (dự kiến 6 tàu nữa sẽ tiếp tục chế tạo và lắp hệ thống chiến đấu Aegis), 3 tàu lớp King Kwanggaeto. (>> xem thêm)

Khinh hạm gồm: 8 tàu lớp Ulsang (sẽ sớm được thay thế bằng chương trình FFX) và 3 tàu lớp Ulsan I.

Hộ vệ hạm có 22 chiếc lớp Pohang, loại tàu này trong tương lai sẽ thế bằng chương trình FFX Ulsan-I.

Tàu khu trục vua Sejong của Hải quân Hàn Quốc.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 14 tàu cao tốc lteen lửa lớp Yoon Young Ha-Ham và 80 tàu pháo cao tốc lớp Chamsuri.

Hạm đội tàu ngầm gồm: 3 tàu ngầm lớp Son Won II (6 chiếc đang đặt hàng), 6 tàu lớp Chang Bogo (Type 209), 3 tàu lớp Tolograe và 7 tàu lớp Cosmos.

Tàu đổ bộ gồm: 1 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Dokdo (kế hoạch đóng thêm 3 chiếc), 4 tàu đổ bộ tank lớp Gojun, 4 tàu lớp Alligator và 1 tàu LSMR.

Tàu quét mìn gồm: 3 tàu lớp Yangyang-AM, 6 tàu Ganggyeong và 8 tàu MSC.

Pakistan

Khinh hạm chiến đấu chủ lực gồm: 3 tàu Type 21 của Anh chế tạo (Pakistan gọi là lớp Tariq), 6 tàu lớp Zulfiquar (F-22P) và 1 tàu lớp Almgir (vốn là khinh hạm lớp Oliver Hazard Perry của Mỹ).

Tàu ngầm gồm: 3 tàu lớp Khalid (Agosta 90B), 2 tàu lớp Hashmat (Agosta 70) và 3 tàu SX 404.

“Thanh gươm” Zulfiquar do Trung Quốc chế tạo.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 1 tàu lớp Larkana, 2 tàu lớp Quwwat và 2 tàu lớp Jalalat II.

Tàu quét mìn có ba chiếc lớp Mujahid.

Tháng 2/2011, trong một cuộc thử nghiệm trên biển thì khinh hạm Alamgir gặp tai nạn và hỏng hoàn toàn. Pakistan đề ra kế hoạch mua 4 khinh hạm săn ngầm Jiangkai I (Type 054) của Trung Quốc và 6 tàu ngầm lớp Yuan (Type 041).

Đài Loan

Hải quân Đài Loan có quân số thường trực khoảng 38.000 người.

Khu trục hạm có 4 chiếc thuộc lớp tàu Kidd do Mỹ đóng (Đài Loan đặt lại tên là Kee Lung).

Khinh hạm gồm: 8 tàu lớp Chengkung (sửa đổi cải tiến từ thân tàu Oliver Hazzard Perry của Mỹ),  6 tàu lớp Kang Dinh (cải tiến từ lớp La Fayette của Pháp) và 8 tàu lớp Chi Yang (mua lại của Mỹ).

Khinh hạm hiện đại lớp Kang Dinh.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 12 tàu tuần tra ven biển lớp Ching chiang, 35 tàu cao tốc tên lửa lớp Hai Ou, 2 tàu cao tốc tên lửa lớp Lung ching và 2 tàu lớp Sui Kiang, 9 tàu tuần pháo tuần tiễu lớp Hai Ou.

Tàu ngầm có 2 tàu ngầm lớp Hailung (mua lại của Hà Lan) và 2 tàu lớp Hai Shih chuyên làm nhiệm vụ huấn luyện thủy thủ.

Tàu quét mìn gồm 2 tàu lớp Ospry, 5 tàu lớp Yung Feng, 4 tàu lớp Yung yang và 4 tàu lớp Adjutant.

Tàu đổ bộ và hậu cần gồm: 2 tàu đổ bộ tank lớp Chungho, 1 tàu đổ bộ có boong hạ cánh máy bay lớp Shui Hai, 1 tàu vận tải lớp Yuen Feng, 1 tàu chở dầu lớp Wu Yi.

>> Tạp chí Quân sự châu Á đánh giá hải quân khu vực (kỳ 1)

Phương Đông (theo Asianmilitaryreview)
Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

CAC LOAI TAU CHIEN HẢI QUÂN VIỆT NAM


Hải quân Việt Nam hiện nay được cho là có khoảng 50 chiến hạm cỡ nhỏ với trang bị lạc hậu và khoảng vài trăm tàu xuồng chiến đấu trên sông. Các chiến hạm chủ yếu được chuyển giao từ Liên Xô cũ và một phần là chiến lợi phẩm từ hải quân Ngụy. Hiện nay Việt Nam đã tự đóng được vài chiến hạm nhỏ. Với mục tiêu từng bước hiện đại hóa hải quân, Việt Nam đã mua vài chiếc khu trục hạm lớp Gepard. Dưới đây là một số chiến hạm đang sử dụng trong lực lượng HQNDVN : Chiến hạm Việt Nam: Petya II – III Petya II và III là lớp chiến hạm hiện đại đầu tiên được HQNDVN nhận về sau khi giải phóng miền nam, năm 1978-1979 đã tham chiến trong cuộc chiến với Khmer đỏ. Hiện nay Petya vẫn còn phục vụ trong lực lượng HQ Việt Nam Tàu hộ tống lớp Petya-II
CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Độ giãn nước: 1,077 tấn
Kích thước: 81.8 x 9.2 x 2.85 mét
Sức đẩy: 3 trục; 6,000 bhp; 2 động cơ đẩy gas turbines 30,000 shp; 29 hải lý/
giờ
Thủy thủ đoàn: 92
Radar: Fut-N/Strut Curve 2-D
Vũ khí: 2 tháp pháo với súng 2 nòng 76.2mm, 2 ống phóng ngư lôi 15.8 inch, 2
giàn phóng rócket RBU-6000 ASW RL
Nguồn gốc: Khu trục hạm cỡ nhỏ của Liên Xô, chuyển giao cho Việt Nam.
Nơi sản xuất: Yantar Zavod, Kaliningrad, Russia. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Tàu tuần tiễu lớp Petya-III
CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Độ giãn nước: 1,040 tấn
Kích thước: 81.8 x 9.2 x 2.72 mét
Sức đẩy: 3 trục; 1 cruise diesel, 6,000 bhp; 2 boost gas turbines, 30,000 shp;
29 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 92
Radar: Fut-N/Strut Curve 2-D air search
Sonar: Titan hull mounted MF
EW: Bizan-4B suite with Watch Dog intercept
Vũ khí: 2 tháp pháo với súng 2 nòng 76.2mm, 3 ống phóng ngư lôi 15.8 inch, 4
giàn phóng rócket RBU-6000 ASW RL
Nguồn gốc: tàu tuần tiễu xuất khẩu của Nga, Việt Nam nhận năm 1978. Việt Nam
hiện có 2 chiếc HQ-09, HQ-11. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Petya là tàu khu trục cỡ nhỏ do Liên Xô chế tạo với chức năng chính là tuần tra bờ biển và chống tàu ngầm. Tổng cộng có khoảng 45 chiếc được chế tạo và sử dụng tại Liên Xô, trong đó có 18 Petya-I, 27 chiếc Petya-II. Phiên bản Petya-III dành cho xuất khẩu.
Việt Nam nhận 3 chiếc Petya-II đã qua sử dụng của Liên Xô và sau đó là 2 chiếc Petya-III vào năm 1978
Petya được thiết kế theo kiểu cổ điển từ thời chiến tranh thế giới thứ 2, mặc dù thời điểm nó sinh ra là vào thập niên 60, có lẽ do Petya không phải là lực lượng chiến đấu xung kích trong hải quân Xo Viết. Nhiệm vụ chính của Petya là tuần tra bờ biển và chống tàu ngầm. Tuy nhiên khả năng chống ngầm của Petya cũng còn hạn chế. Vũ khí
Petya-III có 2 tháp pháo với đại bác đôi 76,2 mm AK-726 với tầm bắn thẳng mục tiêu trên biển xa 8.2 km. AK-726 được điểu khiển bằng hệ thống tự động Fut-B có thể bắn hạ máy bay có tốc độ bay từ 350 – 650 m/s, ở độ cao từ 500 – 6000 m. Tầm bắn tối đa là 18,3 km. Tốc độ bắn là 45 viên trong 1 phút. Tuy nhiên đây là hệ thống pháo khá cũ được sản xuất vào các năm 1958 – 1964, cho nên có nhiều hạn chế về tầm bắn cũng như độ chính xác. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Petya-III còn có 2 dàn Rocket RBU-6000 chống ngầm với 12 ống phóng mỗi dàn, sử dụng rocket cỡ 213 mm RGB-60 không điều khiển có khả năng bắn xuống mặt nước sâu từ 10-500m với tốc độ 11,5 m/s, tầm xa từ 350 – 5800 m. RBU-6000 được điều khiển bởi hệ thống Burya, ngoài nhiệm vụ chính là chống tàu ngầm và tàu chiến khác, RBU-6000 còn dùng để oanh kích các mục tiêu bờ biển. Ngoài ra Petya-III còn có 10 trái ngư lôi cỡ 400 mm CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Khả năng phòng thủ cũng như chiến đấu của Petya rất hạn chế vì tất cả hỏa lực của nó điều là hỏa lực trực tiếp có tầm xạ kích hiệu quả dưới 10 km, trong khi đó các tàu chiến hiện tại đều dùng hỏa tiễn hải đối hải với tầm bắn lên đến hàng trăm km. Tốc độ của Petya khá chậm 29 hải lý/giờ. Tuy nhiên với điều kiện kinh phí cho hải quân còn thấp, Việt Nam vẫn duy trì hạm đội Petya, nhưng với chức năng phòng thủ các cảng sông mà thôi. Tàu hỏa tiễn cỡ nhỏ lớp BPS 500 CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION

CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATIONBắn đạn thật

Độ giãn nước: 517 tấn
Kích thước: 62 x 11 x 2.5 mét/203.4 x 36 x 8.2 feet
Sức đẩy: 2 động cơ diesel, 2 waterjets, 19,600 bhp, 32 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 28
Radar: Positiv-E/Cross Dome air/surf search
EW: 2 PK-16 decoy
Vũ khí: 8 hỏa tiễn Kh-35 Uran SSM, 1 đại bác 76.2mm, 1 súng phòng không 30 mm,
2 súng 12.7 mm MG
Nguồn gốc: Nga thiết kế, được đóng tại Việt Nam CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Tàu tên lửa Tarantul I Tàu phóng tên lửa lớp Tarantul I (Molniya) đã có mặt tại Việt Nam vào năm 1999. Và Việt Nam mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Hiện Việt Nam có khoảng 4 chiếc Tarantul 1, và 2 chiếc Tarantul thế hệ mới thuộc project 1412.8. Trong tương lai sẽ đóng thêm 20 chiếc Tarantul nữa Tàu chiến Tarantul dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Tàu Tarantul trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION – Tàu tên lửa Tarantul được phát triển theo dự án số 12421 của Nga, bao gồm: Tàu chiến đấu, tàu bổ trợ và tàu tuần tra tại các vùng cửa biển, ven bờ. Tàu tên lửa Tarantul trang bị đầy đủ các thiết bị trinh sát và truyền tin, các hệ thống ra-đa trinh sát và kiểm soát xạ kích. Ra-đa có tầm bao quát toàn bộ vùng tác chiến trong tầm bắn của tên lửa, bám tín hiệu 15 mục tiêu và khoá tới 6 mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử. Hệ thống ra-đa kiểm soát bắn của pháo và tên lửa trên tàu có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không, trên biển, tự động dò tìm các tín hiệu đặc trưng của mục tiêu và xử lý các tín hiệu đó chuyển thành dữ liệu tác xạ trên máy tính. * Vũ khí chính trang bị trên tàu Tarantul gồm: – Trang bị hệ thống tên lửa đối hạm với giàn phóng tên lửa U-ran phóng tên lửa hành trình Kh-35 sắp xếp thành hai hàng, mỗi hàng 8 ống phóng (16 tên lửa). Tên lửa hành trình Kh-35 dẫn bằng ra-đa chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa bay cách mặt nước 15 mét, ở giai đoạn cuối chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu chỉ ở độ cao từ 3 mét đến 5 mét. Tên lửa Kh-35 có cự ly tác chiến 130km, tốc độ tối đa khoảng 300 m/s, đầu nổ HE nặng 145 kg – Hoặc tên lửa hành trình đối hạm Moskit – SS-N-22 với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm. Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg – Hoặc tên lửa hành trình đối hạm P-15 Termit “SS-N-2C” với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 80 km, tốc độ March 0.9. – 12 tên lửa phòng không Igla-1M; – 1 pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15 km – Hai pháo phòng không 30mm AK-630M. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Hệ thống ra-đa trên tàu có: Ra-đa trinh sát băng HF, UHF, ra-đa nhận biết mục tiêu không-biển, ra-đa điều khiển, kiểm soát xạ kích cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống ra-đa và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 mét đến 1800 mét. Tàu tên lửa Tarantul có lượng giãn nước 550 tấn, trang bị máy chính 2 trục, động cơ tua-bin khí 32.000 sức ngựa, 3 động cơ Diesel, công suất 500kW mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong thời gian 10 ngày. Toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên tàu 44 người. Tàu còn trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. Việt Nam đã mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Sẽ có khoảng 20 chiếc sẽ ra đời tại Việt Nam Theo một số nguồn tin nước ngoài, 2 tàu Tarantul thế hệ mới cũng đã có mặt tại Việt Nam . Đây chính là 2 tàu đầu tiên thuộc Project 1241.8 “Thần Sấm”. Loại này có tầm hoạt động và hệ thống vũ khí tấn công hơn hẳn Tarantul 1. 2 chiếc này nằm trong hợp đồng mua 12 chiếc Taratul Project 1241.8 mà VN đã ký với Nga. Số còn lại sẽ do VN tự đóng theo công nghệ được chuyển giao . Theo một số chuyên gia nước ngoài phân tích, Với 2 chiếc Gepard (sẽ về Việt Nam cuối năm 2009) và trên 20 Tarantul hải quân Việt Nam sẽ tiến tới thành lập hạm đội biển Đông với trên dưới 30 chiến hạm hiện đại. Khu trục hạm Gepard CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Dài 102m, trọng tải 1,900 tấn, tốc độ 26 knots, trang bị 8 hỏa tiễn SSN-25, có từ một tới ba đai bác 76 ly, bốn ống phóng thủy lôi và có khả năng tránh radar sẽ là một đối thủ đáng gờm cho các hạm đội các nước khác trong khu vực). Ngày 29 Tháng Mười Một, đài BBC dẫn các nguồn tin trên báo chí Nga cho biết, Việt Nam đã đặt xưởng đóng tàu Zelenodollsk ở Tatarstan (chuyên đóng tàu cho hạm đội biển Caspi), đóng tàu tuần duyên loại Gepard. Tàu tuần duyên loại Gepard dài 102m, trọng tải 1,900 tấn, tốc độ 26 knots, trang bị 8 hỏa tiễn SSN-25, có từ một tới ba đai bác 76 ly, bốn ống phóng thủy lôi và có khả năng tránh radar. Ruslan Fatkhutdinov – một phóng viên của đài truyền hình Russian Zvezda đã đến tận nơi để quan sát 80 công nhân đang đóng chiếc tàu thứ hai. Theo phóng viên, các đơn đặt hàng từ Ðông Nam Á đã giúp công nhân xưởng đóng tàu Zelenodolsk có việc làm. BBC cho biết, cuối năm ngoái, hải quân Việt Nam đã mua một chiếc tàu tuần duyên loại Molniya của KSMK – một xưởng đóng tàu khác ở Nga. Molniya được trang bị hỏa tiễn Uran-E. Năm nay, KSMK sẽ giao thêm một chiếc Molniya nữa. Sau đó, 20 chiếc còn lại sẽ được phía Nga chuyển giao kỹ thuật để đóng tại Việt Nam. Vào thời điểm đó, ông Mikhail Dmitriev, giám đốc cơ quan liên bang về hợp tác quân sự và kỹ thuật với nước ngoài cho hãng thông tấn Nga Itar-Tass biết: Thỏa thuận bán phương tiện quân sự giữa Nga và Việt Nam có giá trị khoảng $1 tỉ USD, không giới hạn thời gian. Lúc đó, ông Mikhail Dmitriev đã tiết lộ sẽ bán cho Việt Nam hai chiếc tàu tuần duyên loại Gepard, trang bị hỏa tiễn nhỏ hơn cho Việt Nam vì: “Việt Nam là đối tác chiến lược của Liên Bang Nga trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự và Việt Nam là một trong 10 nước đầu tiên mà Nga có sự hợp tác ở qui mô lớn nhất”. Cũng theo BBC, ông Anatoliy Nikitin – chủ nhiệm một phân xưởng của xưởng đóng tàu Zelenodolsk thì nhờ những hợp đồng này mà kỹ sư và công nhân được nhận đủ lương và nhận lương đúng hạn. Hộ tống hạm “Tartarstan” loại Gepard của Nga Chiếc tàu duyên hải loại Gepard đầu tiên đã đóng được 20% và theo dự kiến sẽ có mặt tại biển Ðông vào giữa năm 2009. Còn chiếc thứ nhì thì sẽ hạ thủy vào năm 2010. Trong một tin phát trên đài truyền hình Russian Zvezda, hải quân Việt Nam đã gửi lời cám ơn nhân viên xưởng đóng tàu Zelenodolsk. Ông Sergey Ilin – giám đốc xưởng đóng tàu Zelenodolsk – kể với đài truyền hình Zvezda rằng, để nhận được hợp đòng đóng tàu chiến cho Việt Nam, ông đã bay sang Hà Nội tám lần. Tuy không cho biết tổng giá trị hợp đồng là bao nhiêu và Việt Nam sẽ đặt đóng bao nhiêu tàu nhưng tin của Russian Zvezda TV cho biết, xưởng đóng tàu Zelenodolsk có việc làm cho đến năm 2012. BBC nhận định, trước đây, Việt Nam vừa mua, vừa nhận viện trợ quân sự từ Liên Xô. Sự hợp tác trong lĩnh vực quân sự chỉ suy giảm sau khi Liên Xô tan rã, Nga quyết định rút tàu chiến khỏi vịnh Cam Ranh vào năm 2002. Nay, trong bối cảnh mới, Việt Nam cũng như nhiều nước Ðông Nam Á đang trở lại Ðông Âu và khu vực thuộc Liên Xô cũ để mua vũ khí. Hồi Tháng Hai năm nay, BBC đã từng đưa tin Nga thiết lập hai trung tâm bảo trì vũ khí do họ sản xuất, một tại Việt Nam và một tại Trung Quốc. Trước đó, Nga đã thiết lập một trung tâm như vậy tại Ethiopia và dự trù sẽ mở thêm những trung tâm tương tự ở Jordan và Algeria. Tàu tên lửa lớp Osa-II Độ giãn nước: 226 tấn Kích thước: 38.6 x 7.6 x 2 mét Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 15,000 bhp, 35 hải lý/ giờ Thủy thủ đoàn: 28 Vũ khí: 4 hỏa tiễn SS-N-2B Styx SSM, 2 dual 30 mm Nguồn gốc: Liên xô sản xuất, 8 chiếc được giao trong năm 1979-81. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Tàu Osa là lọai tàu tấn công cao tốc do Liên xô phát triển vào đầu thập niên 1960 theo các dự án 250 (Osa 1) và 250U (Osa 2). Đây là lọai tàu chiến được sản xuất với số lượng nhiều nhất, trên 400 chiếc được xuất xưởng. Chữ Osa có nghĩa là Ong bắp cày, nó mang tên này do đặc điểm chiến đấu của mình. Việt Nam hiện có khỏang 8 chiếc Osa 2 vẫn còn họat động tốt. Tàu Osa đựơc phát triển nhằm thay thế loại tàu tấn công “Komar” – Loại chiến hạm mini đầu tiên trên thế giới có trang bị hỏa tiễn đối hạm, có khả năng đánh chìm một chiến hạm to hơn nó gấp nhiều lần. Thân tàu Osa được làm bằng hợp kim nhẹ với cấu trúc đặc biệt cùng với 3 động cơ công suất 12000 mã lực và 3 chân vịt, điều này giúp Osa đạt được tốc độ 40 hải lý/giờ CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Vũ khí chính là 4 hỏa tiễn P-15 / SS-N2 được điều khiển bằng ra đa có khả năng đánh chìm 1 chiến hạm to lớn gấp 10 lần Osa ở khỏang cách hơn 80 km. Theo lý thuyết cần 6 Osa để đánh chìm một khu trục hạm 20.000 tấn. Vũ khí phụ của Osa là 4 đại bác 30mm AK-230, chủ yếu đề phòng không hơn là chiến đấu với tàu chiến khác. Chiến thuật chủ yếu của Osa là “đánh và chạy”, lợi dụng tốc độ cao của mình Osa bất ngờ tiếp cận đối thủ và phóng tên lửa sau đó chạy thật nhanh trước khi tàu địch kịp phản ứng, nếu có máy bay địch truy kích thì dùng 4 súng phòng không để chống trả. Chiến thuật này có phần giống các tàu phóng lôi, nhưng khác ở cự ly tiếp cận là vài chục km và vũ khí là hỏa tiễn có tốc độ nhanh hơn nhiều so với ngư lôi. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Osa đã tham chiến nhiều trận, trong đó Osa chịu nhiều tổn thất trong cuộc chiến tranh Iraq-Iran 1980. Điểm yếu chính là hệ thống điều khiển tên lửa và khả năng tự vệ không cao. Tuy nhiên với khối lượng chỉ 200 tấn và tốc độ cao cùng với 4 hỏa tiễn chết người, Osa vẫn là một đối thủ đáng gờm, đặc biệt khi hành quân với số lượng lớn. Ngày nay, Osa vẫn là vũ khí chính của hải quân ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy vậy Tarantul vẫn là lựa chọn số một dành cho dòng tàu cao tốc mang tên lửa. Tàu phóng lôi lớp Turya Độ giãn nước: 250 tấn Kích thước: 39.6 x 7.6 x 2 mét Kích thước: 39.6 x 9.6 x 4 mét Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 15,000 bhp, 37 hải lý/ giờ Thủy thủ đoàn: 26 Sonar: Rat Tail dipping Vũ khí: 1 tháp pháo gắn súng 2 nòng 57mm/70cal AA, 1 súng 2 nòng 25 mm, 4 ống
phóng ngư lôi 21 inch Nguồn gốc: Liên Xô sản xuất giao năm 1984. Nơi sản xuất: Vladivostokskiy Sudostroitel’niy Zavod, Vladivostok, Russia. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION SO 1 class patrol boats Độ giãn nước: 213 tấn Kích thước: 41.9 x 6.1 x 1.8 mét Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 6,000 bhp, 28 hải lý/ giờ Thủy thủ đoàn: 33 Vũ khí: 2 súng 2 nòng 25 mm, 4 hỏa tiễn RBU-1200 ASW RL, 18 mìn Tàu phóng lôi lớp Shershen Độ giãn nước: 161 tấn Kích thước: 34.60 x 6.74 x 1.72 mét Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 12,000 bhp, 42 hải lý/ giờ Thủy thủ đoàn: 22 Vũ khí: 2 dual 30 mm, 4 21 inch torpedo tubes, mines Nguồn gốc: Liên Xô sản xuất giao năm 1979-1983. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Tàu quét mìn lớp Yurka Độ giãn nước: 560 tấn full load Kích thước: 52.1 x 9.6 x 2.65 mét/171 x 31.5 x 8.7 feet Sức đẩy: 2 động cơ diesel, 2 trục, 5,000 bhp, 16 hải lý/ giờ Thủy thủ đoàn: 46 Sonar: MG-69 Lan’ mine avoidance Vũ khí: 2 dual 30 mm, 10 mines Nguồn gốc: Ex-Soviet steel-hulled minesweepers. Nơi sản xuất: Vladivostokskiy Sudostroitel’niy Zavod, Vladivostok, Russia. Khu trục hạm Phạm Ngũ Lão Độ giãn nước: approx. 2,800 tấn full load 2800 tấn Kích thước: 94.7 x 12.5 x 4.1 mét Sức đẩy: 4 động cơ diesel, 2 trục, 6000 bhp, 18 hải lý/ giờ nominal Thủy thủ đoàn: 200 Vũ khí: 3 37 mm, 2 dual 25 mm, 2 SA-N-5 SAM, 2 cối 81 mm Nguồn gốc: Đây là khu trục hạm chiến lợi phẩm thu được của hải quân ngụy, ban
đầu thuộc lực lượng tuần duyên Hoa kỳ sau đó chuyển giao do hải quân Nam Việt
Nam. Vũ khí trên tàu đã được thay thế bằng vũ khí của Liên Xô Nơi sản xuất: Lake Washington SY, Houghton, WA. CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION Những hình ảnh khác CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION CAC LOAI TAU CHIEN CUA HAI QUAN VIETNAM - HCMC RADIO ELECTRONICS ASSOCIATION

Categories: TIN QUỐC PHÒNG | Để lại bình luận

Tạp chí Quân sự châu Á đánh giá hải quân khu vực (kỳ 1)


Tạp chí Quân sự Châu Á (số ra tháng 5/2011) đã đưa ra thống kê số lượng tàu trong Hải quân các nước thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Dưới đây là con số cập nhật nhất về lực lượng hải quân các nước trong khu vực:

Indonesia

Với đặc điểm nhiều đảo và sở hữu vùng biển rộng lớn. Indonesia đã xây dựng một lực lượng hải quân đông đảo, trang bị hiện đại. Quân số thường trực của Hải quân Indonesia khoảng 74.000 người với biên chế 136 tàu các loại.

Hải quân Indonesia trang bị 9 khinh hạm chủ lực gồm: 5 tàu lớp Ahmad Yani, 4 tàu lớp Fatahillah. Các tàu này đều thiết kế với tổ hợp tên lửa chống hạm Harpoon và Exocet.

Hộ vệ hạm gồm: 4 chiến hạm lớp Sigma do Hà Lan đóng (Indonesia gọi là Diponegoro) lắp tổ hợp tên lửa Exocet và 16 hộ vệ chống ngầm lớp Parchim được mua lại từ Đức.

Tàu hộ vệ lớp Sigma của Hải quân Indonesia.

Về lực lượng tàu chiến cỡ nhỏ thì Indonesia có: 4 tàu tên lửa cỡ nhỏ lớp Mandau, 4 tàu tuần tra lớp Kakap, 4 tàu cao tốc tuần tra lớp Singa, 4 tàu lớp Todak, 8 tàu lớp Siada, và 7 chiếc Type 35/36.

Đơn vị tàu đổ bộ của Indonesia có: 6 tàu đổ bộ tank lớp Teluk Gelimanuk, 2 tàu lớp Teluk Sirebong. Chính phủ Indonesia ký hợp đồng mua tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Makassar (2 tàu được đóng ở Hàn Quốc và 2 tàu ở Indonesia dưới dạng chuyển giao công nghệ).

Đơn vị tàu quét mìn có: 2 tàu lớp Pulau Rengat, 2 tàu T43 và 9 chiếc lớp pulau Rote.

Đơn vị tàu hỗ trợ có: 1 tàu chở dầu Arun và 1 tàu bệnh viện lớp Tanjung Dalpele.

Về tàu ngầm, hiện tại Hải quân Indonesia biên chế 2 chiếc lớp Cakra đã được Hàn Quốc nâng cấp. Indonesia từng lên kế hoạch mua tàu ngầm tấn công lớp Amur và Kilo của Nga nhưng đều bị hủy bỏ. Dù vậy, giới lãnh đạo đất nước vạn đảo vẫn bày tỏ tham vọng sở hữu 39 tàu ngầm trong tương lai.

Malaysia

Hải quân Hoàng gia Malaysia được đánh giá là một trong những lực lượng sở hữu nhiều công nghệ tiên tiến nhất khu vực Đông Nam Á. Quân số thường trực có 14.000 người.

Số lượng khinh hạm chủ lực của Malaysia có: 2 tàu lớp Lekiu và 2 tàu lớp Kasturi. Ngoài ra, Malaysia còn có 4 tàu hộ vệ lớp Laksamana. (>> xem thêm)

Tàu chiến cỡ nhỏ và tàu tuần tra gồm: 6 tàu tuần tra ven biển lớp Kedah, 6 tàu SGPV (dài 99 mét, lượng giãn nước 2.200 tấn được trạng bị vũ khí tốt hơn Kedah), 4 tàu cao tốc mang tên lửa lớp Handalan, 4 tàu cao tốc tên lửa lớp Perdana, 6 tàu pháo lớp Jerong, 2 tàu cao tốc lớp Sri Tiga, 15 tàu tuần tra lớp Kris và 12 tàu CB90.

Tàu ngầm tấn công Scorpene – bước đi đầu xây dựng lực lượng tàu ngầm Hải quân Malaysia.

Tàu quét mìn có 4 tàu lớp Mahamiru. Và 3 tàu làm nhiệm vụ hỗ trợ: 1 tàu lớp Gunga Mas Lima (mang được 10 trực thăng) và 2 tàu hỗ trợ chiến đấu lớp Sri Indera Sakti.

Trong khu vực Đông Nam Á, các quốc gia có vùng biển lớn đều dành sự quan tâm đặc biệt tới việc phát triển tàu ngầm – sức mạnh đáng sợ dưới lòng biển.

Malaysia cũng không phải ngoại lệ, năm 2002 Malaysia đã ký hợp đồng trị giá 1,4 tỷ USD mua 2 tàu ngầm tấn công lớp Scorpene từ Pháp. Năm 2009, chiếc đầu tiên đã được chuyển giao và đi vào hoạt động.

Myanmar

Hải quân Myanmar tổ chức với lực lượng khoảng 19.000 người và 122 tàu các loại. Hầu hết các tàu chiến và tên lửa của hải quân đều được nhập từ Trung Quốc.

Tàu tuần tiễu của Mymanmar.

Đội tàu chiến đấu chủ lực tốt nhất của Hải quân Myanmar gồm: 8 tàu hộ vệ lớp Anawratha (lắp tên lửa diệt hạm C-803) và 8 tàu lớp Aung Zeya (sử dụng tổ hợp tên lửa chống hạm C-802).

Đơn vị tàu chiến cỡ nhỏ gồm: 6 tàu cao tốc tên lửa lớp Houxin, 14 tàu pháo “5 Series”, 1 tàu pháo lớp Indaw, 10 tàu pháo lớp Hainan, 12 tàu tuần tiễu PGM và 3 tàu PB90.

Philippines

Hải quân Philippines sở hữu đội tàu chiến mỏng và ít hiện đại nhất trong khu vực Đông Nam Á. Quân số thường trực có khoảng 24.000 người.

Khinh hạm chủ lực lớn nhất của Philipine là chiếc BRP Rajah Humabon, một chiếc tàu già cỗi trang bị vũ khí kiểu cũ, thích hợp cho nhiệm vụ tuần tra bảo vệ ven biển.

Hộ vệ hạm gồm: 2 tàu lớp Rizal và 6 tàu lớp Miguel Malval.

Tàu chiến cỡ nhỏ có: 1 tàu lớp Mariano Alvarez, 3 tàu lớp emilio Jacinto, 2 tàu lớp Emilio Aguinaldo, 22 tàu lớp Jose Andrada, 2 tàu lớp PC 394, 3 tàu lớp Conrado Yap, 8 tàu lớp Tomas batillo và 2 tàu lớp Kagitingan.

Chiến hạm “ba nhất” của Hải quân Philipines. (>> xem thêm)

Hầu hết các chiến hạm của Philipines đều từng phục vụ trong Hải quân Mỹ và các nước đồng minh của Washington. Các kiểu tàu đều thiết kế pháo kiểu cũ, tốc độ bắn chậm, độ chính xác kém, tầm bắn ngắn.

Hiểu được tầm quan trọng của việc giữ gìn vùng biển lớn, chính quyền Philipine trong những năm gần đây đã tiến hành chương trình hiện đại hóa hải quân. Philipine quyết định mua tàu tuần tra cỡ lớn lớp Hamilton từ lực lượng phòng vệ bờ biển Mỹ (tàu này có lượng giãn nước hơn 3.000 tấn). Ngoài ra, Philipine cũng tự thiết kế và “nhờ” Đài Loan chế tạo tàu cao tốc đa năng.

Singapore

Với nền kinh tế mạnh, Hải quân Singapore đã được chính phủ đầu tư khá nhiều tiền bạc cho việc mua sắm các thế hệ tàu mới, hiện đại nhằm bảo vệ vùng biển nước này cũng như đối phó với các mối nguy hiểm xâm phạm.

Đơn vị tàu chiến chủ lực gồm 6 khinh hạm lớp Formidable mua từ Pháp. (>> xem thêm)

Lực lượng tàu chiến cỡ nhỏ có: 6 tàu lớp Victory và 11 tàu lớp Fearless (Singapore đang có kế hoạch thay thế lớp tàu này).

Khinh hạm Formidable của Singapore thiết kế với tính tự động hóa cao. Chiếc tàu có lượng giãn nước hơn 3.000 tấn nhưng thủy thủ đoàn điều khiển chỉ có 71 người.

Về tàu ngầm, Singapore mua lại các tàu đã qua sử dụng của Hà Lan gồm: 4 tàu lớp Conqueror và 2 tàu lớp Archer.

Tàu quét mìn có 4 chiếc lớp Bedok và 12 chiếc FB31-42.

Tàu đổ bộ có 4 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Endurance (lượng giãn nước 6.000 tấn) và 1 tàu đổ bộ tank lớp Perseverance.

Thái Lan

Trong khu vực Đông Nam Á, Hải quân Thái Lan có số quân thường trực đông đảo nhất lên tới 101.000 người (gồm cả Hải quân đánh bộ).

Thái Lan là nước đầu tiên và duy nhất tính tới thời điểm hiện tại sở hữu tàu sân bay (tàu Chakri Naruebet).

Khinh hạm chủ lực có: 2 tàu lớp Phutthayofta (mua lại từ Mỹ), 2 tàu lớp Naresuan, 4 tàu lớp Chao Praya.

Tàu hộ vệ có: 2 tàu lớp Pattanakosin, 2 tàu lớp Tapi và 3 tàu lớp Khamronsin.

Khinh hạm HTMS Naresuran do Trung Quốc đóng nhưng trang bị vũ khí của Mỹ. Tàu thiết kế cải tiến từ mẫu Type 053.

Tàu chiến đấu hạng nhẹ có: 2 tàu tuần tra ven biển lớp Pattani, 3 tàu lớp Hua Hin, 3 tàu pháo lớp Chonburi, 2 tàu cao tốc mang tên lửa lớp Rajcharit, 3 tàu cao tốc tên lửa lớp Prabbrorapak, 6 tàu tuần tra lớp Sattahip, 6 tàu T-991.

Tàu quét mìn có: 2 tàu lớp Lat Ya, 2 tàu lớp Bangrachan, 2 tàu lớp Bangkaew, 1 tàu lớp Thalang.

Tàu đổ bộ có: 2 tàu đổ bộ xe tăng lớp Sichang, 3 tàu đổ bộ đệm khí lớp Griffon 100TD. Thái Lan đang đặt mua 1 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Endurance.

Ngoài ra, Thái Lan có kế hoạch mua ít nhất 6 tàu ngầm Type 206A đã qua sử dụng của Đức với giá 257 triệu USD.

Trung Quốc

Tàu khu trục gồm: 4 tàu lớp Sovremenny (mua của Nga), 2 tàu lớp Shenyak (Type 051C), 2 tàu lớp Langzhou (Type 052C), 1 tàu lớp Shenzen (Type 051B), 2 tàu lớp Harbin và 13 tàu lớp Zuhai.

Khinh hạm gồm: 8 tàu lớp Jiangkai II (Type 054A), 2 tàu lớp Jiangkai I (Type 054), 14 tàu lớp Jiangwei I/II và 23 tàu lớp Jianghu I/II/III.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ có: 18 tàu cao tốc tên lửa lớp Houxin, 5 tàu tên lửa lớp Huijan, 50 tàu tên lửa lớp Houbei, 95 tàu tuần tra lớp Hainan và 90 tàu tuần tra cao tốc Huchuan Hydrofoli.

Khinh hạm lớp Jiangkai II (Type 054A).

Tàu quét mìn có 28 tàu loại T43. Lực lượng tàu đổ bộ có: 2 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Yzhao (Type 071), 20 tàu đổ bộ tank lớp Yuting và 28 tàu đổ bộ hạng trung lớp Yudao/Yulin. Ngoài ra, Trung Quốc đóng 6 tàu chở trực thăng Type 081.

Lực lượng tàu ngầm Trung Quốc có: 2 tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Jin (Type 094), 1 tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Xia (Type 092), 2 tàu ngầm tấn công lớp Shang (Type 093), 5 tàu lớp Song, 5 tàu lớp Yuan (Type 041), 10 tàu Kilo thuộc project 636), 2 tàu Kilo thuộc project 877EKM, 14 tàu lớp Minh và 8 tàu lớp Romeo (dùng cho việc huấn luyện thủy thủ).

Brunei

Hải quân Hoàng gia Brunei tổ chức nhỏ nhưng trang bị khá tốt. Nhiệm vụ chủ yếu là tìm kiếm cứu nạn và bảo vệ lãnh hải quốc gia.

Lực lượng tàu chiến đấu có: 3 tàu hộ vệ mang tên lửa có điều khiển lớp Darussalam, 3 tàu cao tốc tên lửa lớp Waspada, 3 tàu tuần tra lớp Perwira, 4 tàu tuần tra lớp Ijhtihad.

Mặc dù, Brunei ký hợp đồng với BAE System đóng mới 3 tàu hộ vệ tên lửa lớp Nakhodam Ragam nhưng do không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật đặt ra nên toàn bộ số tàu này Brunei đã từ chối nhận.

Cambodia

Hải quân Hoàng gia Cambodia trang bị khá mỏng gồm: 4 tàu tuần tiễu lớp Stenka và 5 tàu lớp Schmel.

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Bộ ba chiến hạm ‘khủng’ của hải quân Malaysia


Không chịu kém cạnh hải quân Singapore, Thái Lan, Indonexia… Gần đây, Malaysia tăng cường hiện đại hóa lực lượng hải quân bằng một loạt hợp đồng mua khu trục, tàu hộ tống, tàu ngầm

Khu trục hạm lớp Lekiu

Lekiu là chiến hạm mạnh nhất, hiện đại nhất của hải quân Malaysia, được đóng tại nhà máy Yarrow (Glasgow, Anh) theo thiết kế tiêu chuẩn khu trục hạm hạng nhẹ F2000.

Khu trục hạm Lekiu có lượng choán nước 2.270 tấn, dài 106 mét,  rộng 12,75 m. Động lực của tàu gồm bốn động cơ diesel MTU 20V 1163 TB93 cho phép đạt tốc độ tối đa 28 hải lý/giờ, tầm hoạt động khoảng 8.000 km. Tổng số thủy thủ đoàn đông đảo tới 146 người (18 sĩ quan).

Khu trục hạm hạng nhẹ lớp Lekiu của hải quân Malaysia.

Lekiu trang bị tổ hợp tên lửa hành trình đối hạm tầm ngắn MM – 40 Block II Exocet. MM – 40 lắp đầu đạn thuốc nổ phá mảnh nặng 165 kg, tốc độ hành trình Mach 0,9, tầm bắn 70 km. Trong giai đoạn giữa hành trình bay, tên lửa hoạt động theo hệ thống định vị quán tính (INS), cuối hành trình bay tên lửa sử dụng radar dò tìm chủ động.

Tên lửa MM – 40 Exocet rời bệ phóng (minh họa).

Hệ thống phòng không Lekiu gồm tổ hợp tên lửa phòng không tầm ngắn MBDA Seawolf chuyên dùng đối phó các cuộc tấn công chiến đấu cơ siêu âm và tên lửa hành trình với tầm bắn 6 km. Tên lửa Seawolf đặt trong hệ thống ống phóng thẳng đứng (16 ống). Sau khi phóng, tên lửa bay tới mục tiêu với tốc độ Mach 2,5.

Tên lửa đối không Seawolf phóng lên theo phương thẳng đứng.

Ngoài ra, trên tàu còn bố trí hai pháo phòng không cỡ 30mm, tầm bắn 10 km, tốc độ bắn 650 viên/phút; pháo hạm Bofor 57mm có tầm bắn 17 km. Lekiu còn lắp một cụm máy phóng ngư lôi chống ngầm cỡ 324mm. Boong tàu đằng sau bố trí một khoang chứa trực thăng và sân đáp phục vụ cho trực thăng chống ngầm AgustaWestland Lynx.

Lekiu lắp hệ thống chiến đấu Nautis F tương tự loại sử dụng trên tàu hộ tống Nakhoda Ragam của Brunei cùng các loại radar tìm kiếm, radar điều khiển hỏa lực, hệ thống định vị.

Nhìn chung, xét hệ thống chiến đấu thì Lekiu thua kém các khu trục hạm của Thái Lan, Singapore, Indonexia và Việt Nam. Tổ hợp tên lửa MM – 40 Exocet chỉ có tầm bắn 70km kém xa tổ hợp RGM – 84 Harpoon (140km) và Kh – 35 Uran (135km), thường được trang bị cho các khu trục hạm chủ lực như Gepard, Formidable…

Tàu hộ tống Laksamana

Năm 1981, chính phủ Iraq kí hợp đồng với Fincantieri mua sáu tàu tên lửa Assad. Tuy nhiên, tàu Assad không được chuyển giao sau khi có lệnh cấm vận quốc tế áp đặt với Iraq (năm 1991). Năm 1995, Malaysia kí hợp đồng mua lại bốn chiếc Assad và đặt tên lại là Laksamana. Từ 1997 – 1999, công việc chuyển giao hoàn tất.

Hộ tống hạm lớp Laksamana.

Lớp Laksamana trang bị tổ hợp tên lửa hành trình đối hạm Otomat Mark2/Toseo. Tên lửa lắp một đầu đạn thuốc nổ mạnh 210kg, tốc độ hành trình Mach 0,9, tầm bắn hiệu quả 150km.

Laksamana sử dụng tổ hợp tên lửa phòng không Albatros trang bị tên lửa đối không Aspide để phòng chống máy bay và tên lửa diệt hạm. Aspide được dẫn đường bằng radar bán chủ động, tầm bắn 15km.

Tên lửa Otomat rời bệ phóng.

Đuôi tàu bố trí sáu ống phóng chứa tên lửa Otomat và tháp pháo cỡ 40mm.

Laksamana bố trí hai tháp pháo, một pháo Oto Melara 76mm ở phía boong trước và pháo Oto Melara 40mm ở boong sau. Cả hai cỡ pháo đều có khả năng tấn công mục tiêu cỡ nhỏ trên biển, trên đất liền và phòng không.

Hỗ trợ chống ngầm, chống hạm, tàu còn trang bị thêm hai cụm máy phóng ngư lôi Whitehead Alenia ILAS – 3 bắn ngư lôi săn ngầm A244/S dùng chế độ dẫn đường hỗn hợp chủ động – bị động, tầm bắn 7 km.

Hệ thống điện tử gồm: radar tìm kiếm trên không – trên biển RAN 12L/X, radar định vị Kelvin Hughes 1007, hệ thống đối phó điện tử (radar đánh chặn INS – 3, radar gây nhiễu TQN – 2), hệ thống định vị siêu âm ASO 94 – 41.

Hộ tống hạm lớp Laksamana có tốc độ tối đa 36 hải lý/giờ, tầm hoạt động 4.300 km.

Tàu ngầm tấn công Scorpene

Tháng 6/2002, chính phủ Malaysia kí với DCNS của Pháp hợp đồng mua hai tàu ngầm tấn công lớp Scorpene. Chiếc đầu tiên mang tên KD Tunku Abdul Rahman hạ thủy năm 2007. Tháng 9/2009, Scorpene chuyển giao cho hải quân Malaysia.

Tàu ngầm Scorpene đầu tiên của hải quân Malaysia.

Tùy từng phiên bản, Scorpene có chiều dài 66 – 76m, lượng choán nước 1.500 – 2.000 tấn. Thân tàu chế tạo bằng vật liệu thép ứng suất đặc biệt có độ giãn nở cao cho phép tàu lặn sâu, phần mũi tàu thiết kế mang hình dáng giống mũi cá ngừ nên có thể giảm tiếng ồn phát ra khi lặn.

Số lượng thủy thủ đoàn trên Scorpene gồm 31 người. Bên trong tàu phân thành các phòng điều khiển, phòng nghỉ ngơi của thủy thủ và phòng cách âm. Tất cả các phòng đều lắp điều hòa nhiệt độ cùng hệ thống hỗ trợ sự sống, bảo đảm toàn bộ thủy thủ đoàn tồn tại được 7 ngày liên tục.

Scorpene trang bị hệ thống kiểm soát chiến đấu hiện đại SUBTICS và các hệ thống định vị siêu âm dưới nước.

Tàu ngầm Scorpene thiết kế với sáu ống phóng ngư lôi cỡ 533mm ở mũi tàu (dự trữ 18 ngư lôi hạng nặng “cá mập đen”) và tên lửa đối hạm phóng từ tàu ngầm SM – 39 Exocet.

SM – 39 là tên lửa đối hạm tầm ngắn do Pháp phát triển từ năm 1975. Trên tàu ngầm, tên lửa SM – 39 đặt trong ống bảo quản, phóng qua máy phóng ngư lôi 533mm. Khi rời khỏi mặt nước, SM – 39 tách khỏi ống bảo quản ở độ cao 30m và bay tới mục tiêu.

Ống bảo quản chứa tên lửa SM – 39 phóng ra khỏi mặt nước.

Tên lửa SM – 39 dùng hệ thống dẫn đường quán tính (INS) và radar chủ động giai đoạn cuối hành trình bay. Tên lửa lắp đầu đạn 165 kg, tầm bắn 50 km.

Scorpene trang bị động cơ diesel – điện, hệ thống động cơ chạy khí độc lập (AIP). Tầm hoạt động trên mặt biển khoảng 12.000 km (tốc độ 8 hải lý/h), dưới mặt biển 1.000 km khi (tốc độ 5 hải lý/h), lặn sâu tối đa 300m, thời gian hoạt động trên biển trung bình 50 ngày. Chiếc tàu Scorpene thứ hai được hạ thủy và đang trong giai đoạn thử nghiệm.

Theo Báo Đất Việt

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Tại sao không nên lo lắng về Trung Quốc?


Những diễn biến gần đây ở Biển Đông giữa Trung Quốc và hai nước Đông Nam Á khiến nhiều nhà quan sát lên tiếng cảnh báo. Tuy nhiên, một cuộc tranh chấp tương tự giữa Bắc Kinh và Tokyo cho thấy rằng, xung đột không phải là không thể tránh khỏi.

Năm ngoái là một năm khó khăn với các quốc gia duyên hải ở Biển Đông và có nhiều dấu hiệu chứng tỏ rằng, cả thập niên ẩn mình của Trung Quốc đã chấm dứt. Trong năm 2010, tin đồn về việc Bắc Kinh coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, việc Trung Quốc cắm cờ ở đáy biển, phản ứng “quá khích” của Ngoại trưởng Dương Khiết Trì khi người đồng cấp Mỹ Hilary Clinton ra tuyên bố về chính sách của Mỹ với tranh chấp Biển Đông… dường như quá mức cần thiết.

Nửa đầu năm 2011, mọi sự việc lại xảy ra tương tự. Các tàu Trung Quốc, cả của dân và chính phủ, đã can thiệp vào những hoạt động thăm dò của Philippines và Việt Nam ở vùng tranh chấp, thậm chí tàu Trung Quốc còn bắn vào ngư dân nước khác. Cách hành xử này dường như đã xác nhận những nghi ngờ bấy lâu nay về quan điểm của Trung Quốc với Biển Đông; rằng ngay khi Trung Quốc phát triển khả năng quân sự để thống trị Biển Đông, họ sẽ làm như vậy. Giờ đây, với những diễn biến mới nhất xảy ra, xung đột tại Biển Đông có vẻ sắp xảy ra.

Tuy nhiên, chúng ta đã chứng kiến kiểu hành xử này của Trung Quốc trước đó, tại biển Hoa Đông, khi Trung Quốc và Nhật Bản tranh cãi về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và những vùng biển lân cận. Quan trọng là, sự leo thang căng thẳng trong tranh chấp đã dẫn tới hợp tác, không xung đột. Tranh chấp về tài nguyên năng lượng bắt đầu tăng cao trong năm 2004 sau khi Nhật Bản phát hiện ra một giàn khoan của Trung Quốc ở khu khai thác Xuân Hiểu (người Nhật gọi là Shirabaka) trong phạm vi 200 hải lý từ bờ biển Nhật Bản nhưng lại ở ngay phía ngoài đường trung tuyến đánh dấu giới hạn chủ quyền Vùng đặc quyền Kinh tế của Nhật quy định trong luật pháp nội địa của họ.

Khi tài nguyên thương mại được xác định rõ ràng tồn tại ở Xuân Hiểu, Tokyo tuyên bố, Bắc Kinh cần ngừng các hoạt động và cùng tham gia phát triển khu khai thác với Nhật Bản. Để xác định quy mô tài nguyên dưới biển, Tokyo đã uỷ quyền để tàu Ramform Victory mang cờ Na Uy tiến hành cuộc khảo sát toàn diện ở khu vực đường trung tuyến gần khu khai thác Xuân Hiểu. Trong cuộc khảo sát này, Ramform Victory đã vài lần đụng chạm với tàu hải quân Trung Quốc và ít nhất một lần đối mặt với tàu quân sự che dậy dưới vỏ bọc tàu nghiên cứu.

Hơn thế nữa, vào tháng 9/2005, tàu khu trục hiện đại Sovremennyy đã trở thành “mục tiêu” của máy bay tuần tra  P3-C Orion khi tàu đi qua khu khai thác Xuân Hiểu. Kết quả của những sự kiện này là việc Nhật Bản tăng tốc các nỗ lực để tiếp cận nguồn tài nguyên ở biển Hoa Đông. Tuần tra trên không trong khu vực cũng gia tăng. Cùng với ít nhiều nhượng bộ, Tokyo đồng thời thiết lập các quy định cần thiết để bảo vệ những công ty dầu khí Nhật Bản hoạt động ở biển Hoa Đông.

Nhiều người dự đoán kết quả sẽ là những “trò diễn” từ Bắc Kinh. Tuy nhiên, có những điều bất ngờ rằng, khi Nhật Bản chuẩn bị khoan khí đốt ở vùng tranh chấp, thì các cuộc đàm phán giữa hai bên bắt đầu có kết quả. Sau khi nghị viện Nhật thông qua Luật xây dựng vùng an toàn cho công trình hàng hải vào tháng 4/2007 – cho phép Nhật phác thảo những vùng an toàn xung quanh nơi lắp đặt giàn khoan và lực lượng phòng vệ bờ biển được phép đuổi các tàu vi phạm những khu vực này – thì các cuộc đàm phán trở nên thường xuyên hơn, đem lại kết quả hữu hình hơn. Cuối cùng, tháng 6/ 2008, hai bên đã tuyên bố một thoả thuận phát triển chung cùng chia sẻ tài nguyên ở Xuân Hiểu và định ra một khu vực phát triển chung ở phía bắc ở giữa đường trung tuyến.

Dĩ nhiên, thoả thuận không phải là hoàn hảo. Nó chưa được thực thi do những phản đối chính trị trong nước ở Trung Quốc, và sự miễn cưỡng của Nhật Bản trong việc từ bỏ tuyên bố chủ quyền với khu khai thác Xuân Hiểu. Căng thẳng hàng hải vẫn tồn tại. Tàu nghiên cứu thuộc lực lượng phòng vệ bờ biển của Nhật, Shoyo, đã hai lần đối đầu với các tàu Trung Quốc năm 2010, sau đó là vụ viêc va chạm giữa m ột tàu cá Trung Quốc với tàu tuần tra Nhật. Tuy nhiên, không nên bỏ qua những bài học có thể. Nước nào đó có thể đem chuyện tranh chấp không gian hàng hải ra mặc cả khi họ có bất kỳ vấn đề nào khác trong hoạt động chính trị quốc tế; Họ sẽ chứng tỏ, sẽ đe doạ hay tiến hành phô diễn sức mạnh quân sự ở mức độ thấp để củng cố các tuyên bố chủ quyền và nỗ lực cải thiện vị trí của mình. Trong khi khá mạo hiểm thì cách hành xử này không đồng nghĩa với việc xung đột là không thể tránh khỏi.

Trong khi có một số lập luận cho rằng, tài nguyên dẫn tới những tranh chấp hàng hải, thì lại có rất ít bằng chứng ủng hộ quan điểm dầu và khí đốt ở  Biển Đông sẽ khơi nguồn cho một cuộc chiến tài nguyên. Hơn thế nữa, các nước tuyên bố chủ quyền công nhận rằng, việc đơn phương phát triển tài nguyên của một đối phương nào đó sẽ có hại với tuyên bố chủ quyền của họ ở khu vực tranh chấp, không phải vì chuyện “đánh cắp” tài nguyên mà là vì những hành động “phớt lờ” như vậy sẽ khiến họ bị lên án, thậm chí phải từ bỏ tuyên bố chủ quyền với khu vực.

Trong thực tế, có thể lập luận rằng, chính việc khám phá ra tài nguyên thương mại tồn tại ở biển Hoa Đông đã dẫn tới sự đồng thuận vào tháng 6/2008 giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở giai đoạn đầu tiên. Vì vậy, điều này cũng sẽ có thể xảy ra ở Biển Đông, khi sự thương lượng và các quan điểm hoàn tất. Nếu Trung Quốc cần nguồn tài nguyên khổng lồ như nhiều người dự đoán, Bắc Kinh có thể thực sự thúc đẩy hợp tác phát triển tài nguyên ngoài khơi hơn là cố gắng ngăn chặn hoàn toàn hoạt động sản xuất. Đó là chưa kể việc khai thác ở Biển Đông có thể bị trì hoãn bởi những quan ngại về chủ quyền, quyền tài phán.

Tuy nhiên, trong khi so sánh, có thể đặt ra những câu hỏi thú vị về quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng. Tại sao các tàu Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Philippines và Việt Nam trong khi các tàu thăm dò Nhật Bản lại không hề hấn gì? Đó là bởi những cuộc khảo sát gần đây của Nhật được các tàu chính phủ tiến hành chứ không phải tàu dân sự? Đó là bởi Nhật Bản là đồng minh quân sự của Mỹ? Trong cả hai trường hợp, sự khác biệt này có thể hỗ trợ cho việc kêu gọi Việt Nam và Philippines tăng cường hơn nữa các khả năng thăm dò khảo sát, khả năng hải quân và tìm kiếm mối quan hệ quân sự gần gụi hơn với Mỹ. Tuy vậy, điều này cũng có thể xem là công cụ mặc cả bởi khi Nhật Bản củng cố vị thế của mình thì Trung Quốc tiến tới hợp tác, cho dù ở hình thức hạn chế. Và, điều tương tự có thể sớm xảy ra ở Biển Đông.

  • James Manicom là nhà nghiên cứ tại Quỹ Nghiên cứu chính sách Đại dương ở Tokyo.

Thái  An (dịch theo Diplomat)

Categories: Uncategorized | Để lại bình luận

Blog at WordPress.com.